Thứ Sáu, 15 tháng 8, 2008

Hợp đồng không thể ký

Bấy giờ là cuối năm 1986. Chiến tranh mới qua đi có 11 năm.
Chúng tôi thuộc một cơ quan làm kỹ thuật về ngành điện tử. Chúng tôi len lỏi đi các nơi tìm kiếm hợp đồng, và hầu như ở nơi nào cũng được đón tiếp nồng nhiệt.
Một lần, anh Lâm trưởng phòng kỹ thuật đưa ba chúng tôi lên Kim Bôi, Hòa Bình theo lời mời của một người bạn làm Giám đốc nông trường, nhân thể tìm công việc. Trong ba chúng tôi chỉ có kỹ sư Tùng còn trẻ, mới 27 tuổi, còn tôi và Kiên vốn là bộ đội chuyển ngành đều ngoài 30 tuổi, đã có vợ. Cậu Dương lái xe cũng vốn là lính.
Chiếc xe UAZ đưa nhóm chúng tôi lên Lương Sơn, rẽ qua Kim Bôi rồi đi vào một nông trường nằm ở một thung lũng sát hai quả núi vào một buổi chiều. Bạn anh Lâm là Giám đốc nông trường này. Dọc hai bên đường vào nông trường là các đồi ngô, sắn. Chúng tôi chỉ thấy toàn chị em phụ nữ đang lao động. Thấy xe chúng tôi, họ đều ngẩng đầu lên nhìn, có chị còn vẫy nón ra chiều thân mật như người nhà. Vào đến trụ sở, dừng xe, chúng tôi được mời vào một hội trường rộng làm toàn bằng tre nứa, nền đất nện. Cơ sở vật chất có vẻ còn nghèo nàn. Cả Ban Giám đốc ba người đều ra đón chúng tôi. Ông nhiều tuổi nhất chắc cũng chưa đến 50. Chúng tôi nhìn quanh, không hiểu nông trường trồng toàn ngô với sắn, chẳng có một thứ máy móc gì thế này thì cần gì đến điện tử mà anh Lâm đưa chúng tôi lên đây tìm kiếm hợp đồng.
Ông Giám đốc lôi ra mấy cái cốc thủy tinh và một ấm giỏ to tướng rót nước vối mời chúng tôi. Chào hỏi nhau được độ hai tuần nước, ông Giám đốc đứng lên xoa hai tay vào nhau, trịnh trọng nhưng không kém đi vẻ vui mừng:
- Báo cáo các đồng chí, nông trường chúng tôi đây có tới 150 chị em, phần đông là thanh niên xung phong từ chiến trường trở về. Các cô ấy đều không có gia đình, hoàn cảnh rất đáng thương. Ban Giám đốc chúng tôi chỉ có ba người, quản lý không xuể. Nay thấy các đồng chí lên đây hỗ trợ "tăng cường", đội ngũ hùng hậu như thế này, chúng tôi rất mừng. Để mời các đồng chí tối nay nghỉ lại cơm nước và giao lưu cùng chị em luôn thể.
Chúng tôi chưa hiểu rõ chuyện gì, nhưng thấy người ta đón tiếp mình vui vẻ là thích rồi.
Tối đó, năm chúng tôi (kể cả lái xe mà) cơm nước đơn giản với hai món chủ lực là sắn và ngô xong là ra luôn hội trường giao lưu cùng chị em công nhân. Chị em công nhân rất cởi mở, họ nói chuyện và tiếp nước chúng tôi có phần chiều chuộng. Hơn một trăm cô gái tuổi mới chỉ ngoài ba mươi một chút. Khi chiến tranh kết thúc, họ là những cô thanh niên xung phong mới 21, 22 tuổi. Ba bốn năm cống hiến tuổi xuân trong tuyến lửa, họ là những con người phi thường, cả nước khâm phục. Nhưng khi trở về nhà sau chiến tranh thì họ lại là những cô gái quá lứa lỡ thì, nhất là trong cảnh làng quê hiếm hoi đàn ông sau chiến tranh. Thế là các cô lại rời quê hương ra đi, tụ hội nhau trên nông trường này. Cả chục năm trời vùn vụt trôi qua tự lúc nào, họ không còn là thanh niên nữa, song cũng không được làm đàn bà. Họ không có chồng, nhưng vẫn muốn được quyền làm mẹ. Đất nước thống nhất cả chục năm trời, Hội phụ nữ Việt Nam kiên trì vất vả thuyết phục và đấu tranh với ngành Tư pháp mãi mới đem lại được cho những người có hoàn cảnh thiệt thòi như các chị quyền được sinh con không giá thú. Nhưng các chị lại gặp nỗi khó khăn là sinh con với ai bây giờ, vì một yêu cầu đặt ra là các chị được sinh con, nhưng phải giấu tên bố. Hơn một trăm con người các chị ở cái nơi heo hút này với nhõn ba người đàn ông trong Ban Giám đốc thì biết làm sao. Trong nông trường cũng đã có mấy chị được làm mẹ, cả tập thể quan tâm chăm sóc, nhưng tất cả mọi người đều phải hiểu một qui định bất thành văn là bố các cháu không phải là các bác trong Ban Giám đốc.
Dần dà, chúng tôi hiểu ra ý tứ trong phát biểu của ông Giám đốc lúc chiều. Rõ khổ. Té ra ông tưởng anh Lâm bạn ông đưa nhóm trai tráng chúng tôi lên đây "tăng cường" cho nông trường. Chúng tôi vừa thương cho các chị công nhân, vừa lo lắng, vừa thẹn thùng. Từ chỗ vui vẻ chan hòa ban đầu, chúng tôi trở nên lúng túng. Cái chuyện như thế này thật hết sức tế nhị và nhạy cảm. Dù gì thì con người vẫn là con người. Mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng mà. Làm sao quan hệ khi chỉ có tình thương. Mà không ai lại có thể làm ngơ nếu biết trên đời này có một “giọt máu” của mình. Còn vợ con chúng tôi nữa chứ. Chúng tôi thương cảm với các chị nhiều lắm, vì thanh niên xung phong các chị với bộ đội chúng tôi trong chiến tranh đều vất vả và chịu nhiều hy sinh mất mát như nhau. Tuy chính sách đãi ngộ với bộ đội còn rất khiêm tốn, nhưng chắc cũng rõ ràng và nhiều hơn so vói thanh niên xung phong.
Chưa nói gì đến nhóm năm người chúng tôi, mà giả sử tất cả đàn ông trong cơ quan chúng tôi có được huy động lên hết cả đây để "tăng cường" cho nông trường thì cũng không xuể. Đấy là chưa kể có phải ai cũng "tăng cường" được đâu. Rồi đủ thứ chuyện khác nữa chứ. Có lẽ cái ý định giao lưu kết nghĩa kiểu như thế này chẳng có ở đâu trên thế giới.
Sáng hôm sau, nhóm cán bộ chúng tôi cơm nước qua loa rồi rút lui sớm. Dọc đường về, chúng tôi chất vấn anh Lâm. Chắc bố đã có một "nhau" trên này nên kéo anh em lên cho có đồng bọn chứ gì?
Nhưng tóm lại là không thể ký được hợp đồng này. Phải chấp nhận ra về tay không thôi.
Nhiều năm trôi qua rồi, trong chúng tôi không có ai trở lại nông trường, kể cả anh Lâm. Có lẽ anh cũng biết thêm chút tin tức gì đó qua ông Giám đốc bạn anh, nhưng anh không nói. Trên báo chí, một đôi lần cũng có phóng sự nói về hoàn cảnh và số phận của những nữ thanh niên xung phong sau chiến tranh, nhưng cách giải quyết và tương lai cho họ ra sao thì không ai nói tới. Có lẽ đất nước còn quá nhiều việc lớn hơn cần phải làm. Dầu sao, chuyện về các chị em TNXP sau chiến tranh cũng là một vết đen buồn trong tâm tưởng những người lính chúng tôi.

Thứ Sáu, 8 tháng 8, 2008

Kể chuyện chí phèo, cuộc đời hay phim ảnh?

Chí Phèo thực ra là dân gốc xóm Đại. Làng chỉ có hai xóm là Đại và Vũ, hợp lại thành làng Vũ Đại. Chí Phèo là một thanh niên nông dân cường tráng và ưa nhìn. Tên cúng cơm thì cũng chỉ là Chí thôi. Nhưng Chí nổi bật hơn tất cả trai tráng ù lì trong thôn bởi tính tình bộc trực và can đảm, không sợ cường quyền. Cái chất con người của Chí được ví như khúc "phèo" trong con lợn, nơi chứa đầy chất lỏng đặc sệt như nước gạo pha sữa nằm ngay sát dạ dày. Người dân tộc khi chia thịt lợn có thể chênh nhau mỗi phần tới một hai cân cũng không có vấn đề gì, nhưng chia cái khúc "phèo" ấy thì không thể không đều tới từng phân. Vì thế Chí mới có tên là Chí Phèo. Cái từ "phèo" là theo nghĩa tốt lắm đấy.
Làng Vũ Đại nằm ở vùng đồng chiêm trũng, nơi làng nào cũng có nghề đóng gạch. Cái lò gạch Làng Vũ Đại thuộc loại to nhất Tổng, nhưng đến mùa chiêm thì cũng đành phải bỏ hoang, trở thành nơi trú ngụ cho Chí phèo trong những đêm đông mưa phùn gió bấc, hay lúc gặp bão mưa gió dầm dề. Trời quang mây tạnh thì chân đạp đất, đầu đội trời, ngả lưng đâu thì nơi đó là giường.
Chí Phèo không cha không mẹ, nhà cửa ruộng vườn chẳng có gì, nên quanh năm chỉ đi làm thuê kiếm sống. Thực ra, người làng vẫn đồn vụng Chí phèo là con rơi của lão Bá Kiến. Vì thế trong làng chỉ có mình Chí Phèo là dám chửi Bá Kiến. Thường thì chỉ chửi vào lúc say, nhưng nếu như có chửi trong lúc tỉnh thì cũng chẳng việc gì. Dao sắc không gọt được chuôi. Chí Phèo như người gánh hạn cho cả nhà, nên lão Bá Kiến cũng chỉ dám mắng dọa Chí Phèo lấy lệ. Lý Cường là con công khai của Bá Kiến, làm chức dịch trong làng nên cũng đôi lần ra oai dọa nạt Chí Phèo. Thì là dọa vậy thôi, chứ thử xắn tay áo vào xới mà xem, cái vóc lẻo khoẻo lèo khoèo của Lý Cường may lắm cũng chỉ chịu nổi chưa quá ba hồi trống là lấm lưng trắng bụng với Chí Phèo. Mẹ Chí Phèo vốn cũng là ngưòi đàn bà lực điền, chứ có đâu ẻo lả con quan như mẹ của Lý Cường. Hổ mẫu sinh hổ tử mà. Tiếc là bà bán sới khỏi quê từ lúc nào, không để cho Chí Phèo được thấy mặt.
Vợ ba của Bá Kiến chỉ hơn Chí Phèo vài tuổi. Làm vợ Bá Kiến là theo sự ép gả thôi chứ cũng chẳng sóng đôi gì. Suốt ngày quanh quẩn trong khu nhà, tuy rộng nhưng vẫn là bị "nhốt" sau hai cánh cổng gỗ lim. Bá Kiến tuy có bồi bổ thuốc phiện để tăng lực, nhưng lại hay rượu nên tạng người đã chuyển dạng "chân ống giang, đầu gối củ lạc", không làm nên cơm cháo gì. Thế cho nên mỗi lần Chí Phèo tìm đến nhà Bá Kiến chửi ngoặng là chị ta khoái lắm. Cánh cửa lim cổng nhà Bá Kiến đâm ra cứ hay bị mở chốt gỗ vô tình, dễ bề cho kẻ gian lẻn vào. May là Chí Phèo vừa đi vừa chửi như ngưòi đánh động, chứ nếu cứ im lặng mà tiến thì có ngày Bá Kiến bị gí mảnh chai vỡ vào cổ lúc nào cũng chưa biết chừng. Nhưng vợ ba Bá Kiến cũng chỉ nhìn Chí Phèo cho vui mắt thế thôi, chứ lúc nào đến nhà mà cũng trong trạng thái say, lại chửi ông ổng cho cả làng nghe thế thì còn làm ăn được gì.
Có một điều cả làng Vũ Đại không biết rõ, ấy là Chí Phèo chỉ say giả vờ thôi. Bần hàn thế thì lấy đâu ra tiền mua rượu. Hơn nữa, nếu Chí Phèo suốt ngày uống rượu, lục phủ ngũ tạng bị ngâm trong rượu mãi thì làm sao còn sức mà cày thuê cuốc mướn.
Có lẽ cả làng cả nước cũng không mấy ai biết đến Chí Phèo đâu, nếu như cuộc đời anh ta không gặp được Thị Nở trong cái lò gạch cuối làng. Mới hay cái sự đời nó lạ lùng thế đấy. Chỗ nào cũng thế thôi. Từ chốn thâm cung, chỗ quan trường đến nơi thôn quê dân dã, phải có tí hơi đàn bà vào thì cuộc đời nó mới ầm vang lên được. "Có nam có nữ mới nên xuân" mà. Bát cháo hành của Thị Nở đã vực dậy cả một cuộc đời lầm lũi, đã làm xoay chuyển cả cuộc đời của một con người có vẻ như đang nằm ở tận cùng của xã hội.
*
Sau cách mạng tháng Tám, người ta không thấy Chí Phèo trong cái làng Vũ Đại ấy nữa. Có thể anh đã tham gia cùng nhân dân đi cướp chính quyền tại một địa phương khác. Không hiểu Chí Phèo có trong đoàn quân Nam tiến sau ngày Nam Bộ kháng chiến 23/9/1945 không? Nhưng chắc chắn trong chín năm kháng chiến chống Pháp, anh đã tham gia du kích ở Nam Bộ. Sau Hiệp Định Giơ-ne-vơ 1954, Chí Phèo cũng không tập kết ra Bắc, mà ở lại miền Nam.
Đầu năm 1964, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mac-na-ma-ra sang thăm chính quyền Việt Nam Cộng hòa của Tướng Nguyễn Khánh. Tại cầu Công Lý trên đường Tự Do, chiến sĩ biệt động Sài Gòn Nguyễn Văn Trỗi đã đặt bom mưu sát Mac-na-ma-ra, nhưng không thành. Ngày 15/10 năm đó, Nguyễn Văn Trỗi đã bị xử bắn tại trường bắn Chí Hòa.
Cũng trong đợt Mac-na-ma-ra sang thăm Việt Nam Cộng hòa ấy, Chí Phèo đã tự phát rủ một ngưòi bạn du kích từ hồi chín năm đón đường ném lựu đạn nhằm mưu sát Mac-na-ma-ra ngay trên đường phố Sài Gòn. Không may, lựu đạn bị tịt không nổ, nên Mac-na-ma-ra thoát chết. Cũng từ đó về sau, viên tướng Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ này không bao giờ dám sang thăm Nam Việt Nam nữa. Hãi đến già.
Năm 1964, Tư Chung được Bộ tư lệnh Miền (Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam) cử vào Sài gòn để tổ chức lại và chỉ huy Biệt động Sài gòn đánh vào các mục tiêu có nhiều sĩ quan Mỹ nhằm tiêu hao sinh lực địch. Chí Phèo đã cùng Sáu Tâm chủ động tìm cách liên lạc với Bộ Tư lệnh Sài gòn mà người chỉ huy cao nhất chính là Tư Chung. Cũng chính Chí Phèo là một trong những chiến sĩ đầu tiên của Biệt động Sài Gòn. Anh đã tham gia nhiều trận đánh, từ nhà hàng Mỹ Cảnh bên sông Sài gòn, khách sạn Caravel, Câu lạc bộ không quân Mỹ đến khu cơ quan Đại sứ Mỹ cũ. Lập nhiều chiến công, trở thành dân Sài gòn thứ thiệt, nhưng cái vẻ mặt của anh trông lúc nào cũng "Phèo" như khi còn ở làng Vũ Đại.
Mậu Thân 1968, trong chiến dịch Tổng tấn công và nổi dậy của quân và dân miền Nam, Chí Phèo được giao phụ trách một mũi đặc công gồm 15 chiến sĩ đánh vào khu Đại sữ quán Mỹ (mới) trên đại lộ nằm thẳng hướng trước dinh Độc lập. Đội của anh đã lập nên kỳ tich với những tình tiết như trong huyền thoại. Khi cả đội đang xung phong vào cổng cơ quan Đại sứ quán Mỹ, thì vấp phải lính quân cảnh Ngụy canh gác vòng ngoài. Để đỡ tốn đạn và tổn thất cho trận chiến đấu chính, Chí phèo đã vừa xung phong vừa hô to:
- Anh em binh sĩ ngụy quân hãy lui ra. Chúng tôi không đánh người Việt. Hãy mở đường cho chúng tôi vào đánh Mỹ.
"Giải phóng không động tới mình, thì mình động tới họ làm chi. Càng đỡ phải đánh nhau, đỡ phải sứt đầu mẻ trán". Thế là đám quân cảnh Ngụy dạt ra, rộng đường cho Chí Phèo cùng các chiến sĩ của mình lao vào tìm đánh Mỹ.
Về sau cũng chính vì chuyện này mà sau chiến cuộc Mậu Thân, đại sứ Mỹ Ellsworth Bunker đã phải chỉ tay vào mặt Tổng thống Việt Nam cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu mà chửi rầm rầm: "Chúng tôi vượt nửa vòng trái đất qua đây giúp các ông đánh cộng sản, vậy mà lính của ông né ra cho tụi VC vào đánh lính Mỹ chúng tôi, thì các ông còn là đồng minh cái nỗi gì nữa".
Chỉ có mỗi 15 người lính mà đánh cả một tòa Đại sứ Mỹ. Lực lượng quá mỏng manh, những chiến sĩ biệt động lần lượt hy sinh. Chí Phèo đã đánh lên tận cùng tầng gác tòa Đại sứ, bị bịt mất cầu thang, bị thả khói độc và đã anh dũng hy sinh.
Không biết ở làng Vũ Đại còn ai thắp hương cho anh không, nhưng chắc chắn trong một nghĩa trang liệt sĩ nào đó, trong một ngôi mộ vô danh nào đó có anh: Chí Phèo ở làng Vũ Đại.
*
Không biết những nội dung suy đoán trên có đúng không, nhưng đấy là do Trinhsat rút ra sau khi lần lượt xem hai bộ phim "Làng Vũ Đại ngày ấy" và "Biệt động Sài Gòn".

Chủ Nhật, 3 tháng 8, 2008

Vợ ơi, nàng là ai

Trận ốm nặng tưởng lên đường đi mãi
May có vợ hiền, bè bạn, người thân
Chăm sóc sớm hôm, mọi nhẽ, muôn phần,
Nên trần thế đón nhận ta trở lại.


Ta chỉ là kẻ chân đất áo vải, sinh ra cũng tại làng quê, nhà cũng có mảnh vườn, sân gạch. Vốn thương con không muốn cảnh nấp mãi sau lũy tre làng, thuở thiếu thời cũng được me cha cho theo đòi ăn học. Chữ nghĩa học đủ ba trường, nhưng trường đời chưa một lần từng trải. Lớn lên gặp cảnh binh đao, đất nước điêu tàn phân chia hai miền Nam Bắc. Trai thời loạn không thể ngồi không hưởng lạc, nên cùng trai làng chinh chiến xông pha. Những tưởng chiến trường ác liệt, thân trai đền nợ nước cũng đành.
Thế mà bom đạn chê(?), không phải. Chúng tránh ta để cho ta có được ngày về. "Chàng là của em, phận duyên định thế. Nên chàng phải trở về với vợ, là em". Người con gái đất trung du rừng cọ đồi chè đồi sim bát ngát, đã nói như vầy trong ngày lễ vu qui. Ta xúc động nghe tuy chẳng nói lời gì, nhưng thầm nghĩ số trời chắc vậy.
Nàng còn là học sinh, khi ta đã là người lính. Thế tất nên nàng nhỏ tuổi hơn ta. Lúc đầu ta gọi nàng là em, khi có tình gọi người yêu trên miệng. Lúc cưới rồi gọi nàng là vợ, một từ thôi mà thật thiêng liêng. Trong cuộc đời có lúc ưu phiền, hoặc có lúc vui, hay có điều thầm kín. Tâm sự cùng nàng, ta gọi bạn tâm giao.
Lúc nào cũng thấy nàng bé bỏng biết bao, khi ta tự cho mình là người anh, là chỗ dựa. Tất nhiên trừ lúc ta mắc lỗi, lớn nhỏ gì nàng cũng phải gắt to. Chỉ lúc đó mới thấy nàng không nhỏ, còn ta lặng im bé lại một phần. Nhưng nói gì ta vẫn nhận phần hơn, luôn thương nàng người vợ hiền bé bỏng.
Con người ta không ai khỏe mãi, đá sỏi gì cũng có lúc đổ mồ hôi. Khi ốm rồi mới hiểu thêm tình vợ, nghĩa phu thê truyền thống của dân mình. Nàng đắp thêm chăn vào những đêm đông, hay quạt cho ta trong chiều hè mất điện. Dịu dàng bón cho ta từng thìa cháo nhỏ, bát cháo hành giải cảm của dân gian. Những viên thuốc đủ màu nhỏ bé xinh xinh, nàng dỗ dành ta gắng mình cố nuốt. Hay có những đêm đông rét buốt, nàng thức cả đêm lo ta từng cái trở mình. ÔI, cảm động biết bao, không nói hết nghĩa tình, ta thấy nàng lại như là chị ta, thậm chí như người mẹ. Chăm chút cho con, dù là Thánh Gióng đã hơn người.
Chuyện chỉ là đời thường thế thôi, nhưng làm người rồi không thể là không nghĩ. Lúc ốm ta mong nàng về như trẻ con mong mẹ. Chờ chiếc bánh đa, hay chờ tiếng nàng cười(?). Mọi khó khăn rồi sẽ lại qua thôi, sẽ đến ngày sức ta khỏe lại.
Thế rồi ta thầm nhủ lòng mãi mãi. Trong cuộc đời này dù chớp giật mưa giông, dù sóng bể mưa nguồn hay nắng gắt, chiều đông. Không bao giờ quên ân nghĩa vợ chồng cùng vợ. Ta sẽ nói điều này với vợ, anh sẽ đem về mùa xuân mãi cho em.

Thứ Bảy, 19 tháng 7, 2008

Ấm chè “thái giám”

( Chuyện kể nhân ngày 27/2)
Tháng tư, đã chớm bước vào hè. Trời nắng không gắt, lại có gió man mác nên lòng người cũng thư thái, dễ hoà vào với thiên nhiên. Chiều nay có buổi thực tập nghề, được về sớm nên có nhiều thời gian. Mặc kệ cho lũ bạn cùng lớp ào ào lấy xe kéo đến nhà nhau, tôi tách ra rồi lững thững đạp xe chầm chậm men theo hè về nhà.
Qua đường Đại Cồ Việt, tôi chợt nghe một tiếng gọi giật tên tôi rất to:
- Tiến!
Rồi một người mặc áo lính từ sát phía trong hè bước nhanh ra với tay gần như nắm vào ghi đông xe đạp của tôi, vừa lúc tôi dừng lại.
Tôi nhìn và nhận ngay ra hắn:
- A! Hà! Thằng Hà “thái giám”.
Hà cười. Chúng tôi gần như ôm lấy nhau. Cả hai tíu tít hỏi chuyện nhau.
- Về nhà tớ đã, rồi chúng mình hàn huyên. Dễ đến ba năm rồi còn gì. - Hà bảo.
Thế là tôi theo Hà về nhà nó ở xóm Vân Hồ. Dọc đường nó nói đủ thứ chuyện linh tinh, nhưng tôi chẳng nghe được gì. Tôi đang nhớ lại ba năm về trước.

Dạo đó Hà và tôi cùng trang lứa, cùng là lính C6-Sư 320A. Vào chiến dịch Tây nguyên xuân 1975 thì tôi là trung trưởng, còn Hà là tiểu đội trưởng trong cùng trung đội với tôi. Trong khi các Sư bạn chuẩn bị đánh Buôn Mê Thuột, thì Sư chúng tôi nhận nhiệm vụ cắt đường 14 đánh tiêu hao sinh lực địch, và đánh quân cứu viện.
Ngày 5 tháng 3, trung đoàn chúng tôi triển khai phục kích trên đường 14 ở khu vực Cẩm ga, cách Buôn Mê Thuột ngót 100km về phía bắc. Đại đội tôi nằm ở phía nam đội hình mai phục. Đến chiều 7/3 thì có tin trung đoàn 45 nguỵ thuộc Sư 23 đang hành quân từ Pleiku về tăng viện cho Buôn Mê Thuột. Chúng tôi được lệnh chặn đánh, đại đội tôi đánh chặn đầu. Khoảng 5 giờ chiều, chiếc GMC đầu tiên của địch đã đi lọt qua hết chiều dài 1km của đội hình phục kích. Cả hai khẩu DKZ của trung đoàn cùng đồng loạt nổ súng, bắn cháy ngay chiếc xe đi đầu. Đội hình hành quân của địch chững ngay lại. Lập tức các loại hoả lực trên toàn tuyến cùng nã xối xả vào đội hình địch, bắn cháy thêm một số xe khác. Vì khu vực phục kích là sườn dốc, có một phần cây lúp súp và đồi tranh, nên cánh bộ binh phải đào hầm phục kích cách xa mép đường tới hai ba trăm mét để giữ bí mật. Trong lúc hoả lực mạnh của trung đoàn bắn phá đội hình địch thì bộ binh chúng tôi vận động ra mép đường, tiếp cận để tiêu diệt địch bằng hoả lực và xung lực của bản thân. Nhưng trong lúc đó thì bọn địch còn sống đã kịp nhảy khỏi xe và triển khai hoả lực chống trả mãnh liệt. Chúng nã cối 81, DKZ và rốc két M72 ầm ầm về phía ta, mặc dù đang ở thế thấp bất lợi. Cả trận địa ầm vang tiếng súng, khói lửa mù mịt. Trong lúc xung phong, tiểu đội của Hà vẫn chạy chếch sau bên trái tôi. Lúc gần tới mép đường thì một qủa đạn cối rơi trúng tiểu đội Hà. Tôi ngã sấp xuống trong hơi tạt của quả đạn nổ, song vẫn kịp ngoái lại. Doanh, chiến sĩ giữ M79 trong tiểu đội Hà đã hy sinh ngay, còn Hà đang giãy dụa, mồm há ngáp ra vì đau. Tôi nhoài lại sờ thấy Hà bị thương ngay nơi hạ bộ, máu ra ướt đẫm quần. Tôi xé chiếc băng cá nhân buộc chặt lại cho Hà như kiểu đóng khố, rồi dẫn trung đội đánh tiếp xuống đường. Cùng với các trung đội bạn, chúng tôi yểm hộ cho nhau và quần nhau với bọn tàn quân địch, dồn chúng xuống khe cạn bên kia đường để tiêu diệt. Chúng tôi hầu như không bắt tù binh. Tới khi chúng tôi làm chủ trận địa thì trời đã tối mịt. Một tiểu đoàn của trung đoàn 45 nguỵ bị tiêu diệt . Hai tiểu đoàn còn lại rút ngược trở lại Pleiku. Bọn địch ở xa căn cứ, lại không nắm vững tình hình nên không đám gọi pháo bắn trả. Chúng tôi rút quân trở về đến khu tập kết thì đã nửa đêm.
Ngay đêm đó, chúng tôi chôn cất xong tử sĩ, còn số thương binh thì đã được đơn vị dự bị chuyển về phẫu phía sau.
Các ngày tiếp sau, cùng với Buôn Mê Thuột được giải phóng, chúng tôi đánh tiếp các cứ điểm Kênh Săn và Tam giác trên đường 14.
Rồi chúng tôi đi suốt chiến dịch Tây nguyên, tham gia tiếp chiến dịch Hồ Chí Minh. Sáng 30/4 chúng tôi đánh trận cuối cùng ở sân bay Tân Sơn Nhất. Miền Nam giải phóng, trung đoàn chúng tôi được đóng quân 4 tháng trời ở căn cứ cũ Đồng Dù của địch, trước khi phải trở lại địa bàn rừng núi Tây Nguyên quen thuộc.
Một chiều tháng 6/1975, Hà từ Quân y viện về thăm đơn vị cũ trước khi giải ngũ ra Bắc. Bây giờ cậu ta đã là thương binh. Trông cậu ta có vẻ béo tốt, khoẻ mạnh. Tứ chi lành lặn, nhưng mảnh cối tai ác đã chém phăng đi của Hà nguyên cả cái bộ phận, mà phải có nó, người ta mới được gọi là đàn ông. Lính tráng chúng tôi chả kiêng dè gì, đè nó ra xem rồi ai đó đặt luôn cho nó cái tên Hà “thái giám”. Hà ở thăm đơn vị mấy ngày rồi ra Bắc.
Hai năm sau, tôi cũng giải ngũ, về đi học. Thế rồi hôm nay gặp lại Hà, thấm thoắt đã ba năm.

Gian nhà của Hà nằm trong xóm lao động. Đồ đạc đơn sơ như của đại đa số các gia đình khác. Tôi hơi ngạc nhiên khi đã mấy năm rồi mà nó vẫn còn giữ được nguyên trang phục lính, đủ cả dép cao su đúc và mũ cối.
Tôi hỏi:
- Thế mấy năm nay cậu làm gì?
- Đi buôn.- Hà đáp và nhìn xoáy vào bộ mặt ngơ ngác của tôi.
- Cậu đùa đấy à. Cậu thì biết quái gì mà đi buôn.
- Thật chứ lại. Nhưng buôn nhỏ thôi. Chờ pha ấm chè rồi tớ kể chuyện này cho mà nghe.
Khi Hà đặt ấm chè lên bàn, tôi lại ngạc nhiên:
- Cậu sang nhỉ. Moi đâu ra chè móc câu tuyệt vời thế này.
Hà cười:
- Có chuyện, nên mới có chè mà uống. Chứ thật ra lâu nay cả thiên hạ chỉ có chè bồm và chè gói toàn cẵng thôi, đúng không? Nói chứ tớ cũng thèm chè búp như hồi bọn mình còn đang đánh nhau trong Bàu Cạn B3 lắm, nhưng bây giờ đó là của quý. Tớ cũng chỉ có đôi ba ấm thôi, hôm nay là đãi cả cậu và tớ đấy.
Thế là vừa uống trà, Hà vừa kể cho tôi nghe chuyện về ấm chè này.
Từ ngày ra quân, Hà cũng làm đủ thứ việc để sống, phụ thêm vào số tiền trợ cấp thương binh bậc 2 ít ỏi hàng tháng. Một trong những việc đó là thỉnh thong nó ngược lên Thái Nguyên buôn về mỗi chuyến một hai cân chè hoặc vaì cân măng.
Cách đây ít ngày, Hà lên Thái Nguyên và khi về, nó mang trong chiếc ba lô 2kg chè móc câu. Hơi nhiều hơn mọi khi, và có lẽ đó là điều không may. Khi chiếc xe ca Ba Đình tậm tạch chạy về đến cầu Phủ Lỗ thì trời đã cuối chiều. Xe vừa qua cầu thì có ba người của phòng thuế xuất hiện bên đường. Hai nam và một nữ. Họ ra hiệu cho xe dừng lại, rồi một người nam trèo lên xe. Anh ta đưa mắt nhìn một lượt từ đầu đến cuối xe rồi lớn giọng:
- Ai có hàng hoá buôn bán gì khai mau và đem ra cho cơ quan thuế kiểm tra.
Chừng như đã quen với cảnh này nên từ bác tài xế đến mọi hành khách chẳng ai có phản ứng gì trước cái lối nói xóc óc đầy quyền uy của nhà chức trách. Bác tài còn đế thêm:
- Thôi, bà con ai có hàng buôn gì thì báo luôn cho nhanh để xe còn kịp về Hà Nội sớm.
Mọi người nhìn nhau, rồi có hai người đứng lên đi ra ngoài cửa xe. Tự giác cho nhanh chứ giá có giấu cũng chẳng ăn thua gì. Người thứ nhất là một bà đi buôn măng chừng ngoài năm mươi tuổi. Hàng hoá đến gần chục cân măng. Lập tức đôi thúng và quang gánh của bà ta bị lôi xuống đất. Bà ta vừa nhăn nhó, trình bày, van xin với anh phòng thuế đứng dưới đất, vừa chậm rãi dềnh dàng mở cái túi vải đựng măng. Còn người có hàng hoá thứ hai là thằng Hà "thái giám". Nó vừa ôm khư khư cái ba lô dựng hai cân chè trước bụng, vừa cười mếu với anh phòng thuế thứ hai đứng ở cửa xe:
- Dạ thưa anh, em là thương binh, chỉ có ít chè đem về xuôi biếu người nhà thôi ạ.
- Biếu với biếc cái gì? Cả một ba lô chè to tướng thế này, không đi buôn thì là gì? Xuống xe ngay.- Người phòng thuế quát to rồi tóm được một bên quai ba lô của Hà kéo mạnh và nhảy xuỗng đất, rồi ra lệnh:
- Mở ngay ra cho kiểm tra.
Thằng Hà vẫn giữ chặt miệng ba lô, cố gắng nài nỉ:
- Thưa anh, đúng là em đem làm quà thật mà.
- Giở ra, không có xin xỏ gì cả. Đi buôn lậu định trốn thuế hả.
Lời qua tiếng lại, hai bên giằng co một hồi. Cả bác tài và hành khách có vẻ sốt ruột. Hà đành nói thật với người phòng thuế, mong cho xong chuyện:
- Anh ơi, anh làm ơn làm phúc tha cho em. Em có buôn thật, nhưng chỉ có hai cân chè. Anh thông cảm cho em là thương binh, chưa tìm được việc làm gì.
- À, mày lại còn định giả vờ là thương binh doạ tao à. Định chống lại nhà nước hả?- Người phòng thuế không những không nương tay cho Hà, mà còn lớn giọng, đoạn anh ta bất ngờ giật mạnh chiếc ba lô trên tay Hà.
Chiếc ba lô bị văng mạnh xuống bãi cỏ, bật nắp, rách giấy báo làm chè văng ra tung toé. Nhìn những búp chè văng ra đất, Hà xót ruột, mắt hoa lên. Rồi bỗng nhiên mặt nó nóng bừng, không bình tĩnh được nữa. Nó đứng thẳng người lên nhìn vào mấy người phòng thuế, thét to:
- Chúng mày mở to mắt mà nhìn đây này. Bố mày đã từng đi chiến đấu. Bố mày đã hiến dâng cả bộ c... của bố mày cho Tổ quốc, mà bây giờ có hai cân chè cũng bị cướp à.
Vừa hét, Hà vừa đưa tay cởi nhanh thắt lưng, tụt cả cái quần vứt xuống đất. Tình huống bất ngờ. Tất cả mọi người kể cả hành khách trên xe lẫn mấy người phòng thuế đều ngẩn người ra khi nhìn thâý người thanh niên mặc áo lính cóm róm lúc nãy, bây giờ đứng hiên ngang bên vệ đường nhưng tồng ngồng và ấn tượng hơn là ở ngay giữa chỗ kín của anh ta không có gì cả, ngoài một mảng đen nham nhở. Chưa ai kịp hiểu ra điều gì thì Hà đã cúi xuống rút ngay chiếc đòn gánh của bà buôn măng huơ lên trời theo hình vòng cung rồi nện một đòn trúng lưng một người phòng thuế. Đoạn nó giật lại rồi trở đầu đòn gánh kia lia một nhát vào ngay cẳng chân người phòng thuế thứ hai đúng lúc anh này co cẳng chực chạy. Còn người đàn bà phòng thuế thì tuy không bị phang gậy nào, song cũng ngã dúi ngã dụi xuống bãi cỏ vì quá luống cuống và sợ hãi.
Cảnh tượng diễn ra thật bi hài.
Sau mấy đường gậy tung hoành như Lục Vân Tiên đánh cướp, bây giờ Hà đứng đó trên bãi cỏ, hiên ngang trong ánh nắng chiều xiên xiên. Còn hai người phòng thuế thì đang lạy như tế sao, van vỉ anh anh em em xin Hà nương tay. Người thương binh đang tồng ngồng trước mặt họ không chút ngượng ngập và chẳng còn gì để mất, chắc dám đổi mạng lắm.
Hà vẫn còn tức, nó gào to trong hơi thở hổn hển như phân giải:
- Bố mày không công thần, đã chẳng thèm đi trộm cướp, chỉ mong kiếm sống tử tế qua ngày, nay có hai cân chè, đã phải van nài chúng mày mà chúng mày còn không tha thì bố mày quyết tử cho chúng mày biết.
- Dạ chúng em xin anh, anh tha cho tụi em. - Hai người phòng thuế vẫn rối rít lạy xin.
Lúc này mọi người trên xe mới ùa cả xuống. Một số người đến khuyên giải Hà và giúp nó mặc lại chiếc quần. Còn số đông thì xúm lại nhặt số búp chè rơi trên đất cỏ giúp Hà. Bà con còn cẩn thận gói số chè bị dính chút đất để riêng. Bác tài cũng vui vẻ chờ bà con thu xếp và đưa Hà lên xe. Ba người phòng thuế nhân lúc mọi người xúm lại giúp Hà cũng nhanh chân rút gọn. Bà buôn măng cũng được hưởng lây, không mất đồng thuế nào, bày tỏ lòng cám ơn Hà rối rít. Chiếc xe ca lại chuyển bánh, kịp về Hà nội trước lúc trời tối.
- Đấy là nguồn gốc ấm chè mời cậu đấy. Tớ đã đãi sạch lại số chè dính đất, được mấy ấm để uống. - Hà kết thúc câu chuyện.
Tôi xoay chén trà nóng trên tay, ngắm nhìn làn hơi nóng đang lung linh trên mặt nước chè. Nhấp ngụm chè vào miệng, tôi thấy bên trong hương chè thơm chát như có lẫn chút vị hăng của cỏ, và có một vị gì đấy như là mồ hôi, không phải của đàn ông, cũng chẳng phải đàn bà. Tôi nghĩ đó là vị chè “thái giám”.

Nhiều năm trôi qua, tôi không gặp lại Hà. Sau lần được Hà mời về nhà uống chè ít lâu, cậu ta chuyển vào Nam, lại trở lên Tây nguyên thì phải. Trong một lần đi công tác Thái Nguyên, tôi dừng chân bên cầu Phủ lỗ. Cạnh bãi cỏ năm xưa nơi xảy ra trận xung đột của người thương binh “thái giám” để giữ gìn miếng cơm manh áo, người ta đã xây một trạm xăng, nhưng bãi cỏ thì vẫn còn. Tôi đứng nhìn mà tưởng như bên dưới gốc những cây cỏ kia đâu đó vẫn còn vương vãi những búp chè. Chúng vẫn còn mang đủ vị của chè, của cỏ và cả hơi ấm của một người từng là đàn ông, đã hiến dâng phần quan trọng nhất trong cơ thể mình cho cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.
Vũ Công Chiến

Thứ Hai, 14 tháng 7, 2008

Chuyện về Các chú bé đánh giày


Xã hội văn minh. Kinh tế phát triển. Mặt bằng đời sống tăng lên. Đàn ông, thanh niên và cả phụ nữ đi giày nhiều hơn. Cứ nhìn ra đường mà xem, người đi giày nhiều hơn người đi dép. Đội ngũ những người làm nghề đánh giày tăng lên. Không chỉ là hình ảnh các chú bé đánh giày cho bọn sĩ quan, lính Pháp hay các công chức thời chống Pháp như trong truyện thiếu niên một thuở, ngày nay thanh niên và cả người lớn tuổi hơn cũng tham gia đội quân đánh giày. Đó cũng là một nghề kiếm sống lương thiện, một dịch vụ xã hội không cần hóa đơn đỏ.
Có điều, các chú bé đánh giày ngày nay tinh quái và lắm trò hơn so với các bậc tiền bối rất nhiều. Trong nền kinh tế thị trường, các chú buộc phải dùng tiền làm thước đo cho hành động. Gặp khách hàng có đôi giày mới, đẹp, loại đắt tiền mà lại "tinh vi" mải khoe mẽ cùng bạn gái là các chú áp dụng ngay kế 36 trong binh pháp Tôn Tử, "bốc hơi" ngay và để lại cho khổ chủ một đôi dép nhựa cũ mòn. Xấu mặt một chút, nhưng bằng đến mấy ngày công cực nhọc ngoài đường chứ không phải chuyện đùa. Mà xấu là xấu cả làng đánh giày chứ đâu có chỉ được đích danh ai mà sợ. Trách nhiệm "tập thể" mà. Có một dạo, Hà Nội còn ồn lên thủ đoạn của các chú đánh giày nhè vào các anh có giày đẹp mải ăn sáng là chích ngay cho một đường "lam" vào đường chỉ khâu, khiến thượng đế buộc phải xì thêm tiền nhờ các chú quyệt cho một đường keo con voi dính tạm. Thủ đoạn này khiến nạn nhân không đau như bị mất giày, nhưng cứ ấm ách về đôi giày "mốt" mà lại bị dán keo.
Bọn công chức quèn chúng tôi phải chăng vì thế mà không khoái mấy chú đánh giày. Giày chúng tôi đi đa phần cũng chỉ là giày Tàu, hay cùng lắm là giày Quốc phòng mua ở đường Lê Duẩn, chứ tiền đâu mà sắm giày hàng hiệu trong siêu thị. Dẫu biết loại giày của mình không phải là mục tiêu cho các cao thủ "giày lâm" (thì hiểu na ná như "võ lâm" ấy mà) ra tay, nhưng kẻ nghèo thì mất một đồng cũng tiếc, nên chúng tôi cũng làm một bài mộc mạc là tự mua xi về, tự đánh giày. Trong con mắt chúng tôi, mấy chú đánh giày hơi bị coi thường.
Thế nhưng trong cuộc đời, vật đổi sao dời hay những chuyện như sớm nắng chiều mưa là chuyện thường ngày ở huyện. Sếp cơ quan tôi, một người có tới mấy cái bằng cấp và có tiếng trong giới làm ăn, một hôm bỗng nổi hứng cao giọng kể chuyện cho chúng tôi nghe về thân thế sự nghiệp của ông. Ông kể, thời trai trẻ ông sống rất cơ hàn. Đã có một thời gian dài, đâu tới hai ba năm gì đó, ông phải đi dánh giày để kiếm sống. Mà đánh giày ở một thị xã xa xôi chứ không phải được ở đất Kinh thành đô hội, xứ xở mơ ước của nhiều dòng tộc, nhiều miền quê, nơi có đông người đâu nhé. Vì thế phải bươn chải khắp mọi ngõ nghách tìm người có nhu cầu đánh giày. Một ngày ông đi bộ tới mấy chục cây số, còn hơn cả vận động viên điền kinh ngày nay luyện tập đi bộ hàng ngày. Mà đánh giày cũng không phải là nghề chính của ông đâu. Ông chỉ làm thêm việc đó để lấy tiền ăn học, nuôi chí lớn thôi. Một buổi đi học, còn một buổi cộng với ngày nghỉ đi đánh giày, chỉ có buổi tối là dành để học bài. Ông đã từng phải học bài dưới ánh trăng, dưới ngọn đèn đường. Thậm chí có thời gian ông phải bắt đom đóm cho vào cái lọ để lấy ánh sáng học bài (mắt Sếp tinh thật), giống như các cụ Lương Thế Vinh hay cụ Cao Bá Quát chăm học ngày xưa. (Lại phải kính xin lỗi hai cụ, nếu ngày xưa các cụ không như thế, nhưng cứ phải dẫn ra đây, vì Sếp chúng cháu bảo vậy mà). Chính cái sự cơ hàn vất vả đó đã nuôi ý chí, nghị lực phi thường cho Sếp chúng tôi học hành đỗ đạt và làm nên sự nghiệp ngày nay.
"Phải qua lao động và học tập vất vả như thế mới rèn luyện nên ý chí và nên người, chứ như các cậu bây giờ được cha mẹ cho ăn học tử tế, không phải làm gì vất vả thì còn lâu mới khá được". - Sếp kết luận.
Cả lũ nhân viên chúng tôi há mồm ra nghe Sếp tâm sự. Thật là phi thường, phục thật, phục thật. Chúng tôi còn trộm nghĩ là đáng lẽ Sếp chúng tôi còn phải lên cao nữa mới xứng tầm chứ chỉ cầm đầu cái đơn vị bé tẹo như cơ quan tôi, thật chẳng bõ bèn gì. Chúng tôi chỉ hơi tiếc một điều (cho bản thân chúng tôi thôi), là Sếp vốn tinh mắt và có tuổi trẻ quá gian nan, nên bây giờ việc gì Sếp soi cũng ác, và hơi căn cơ với chúng tôi.
Dù sao, Sếp vẫn là Sếp. Và bản tính của bọn công chức quèn chúng tôi thời nay là phải biết nịnh Sếp, không thì có ngày treo niêu. Biểu hiện rất rõ là chúng tôi lười tự đánh giày hơn. Chúng tôi đã nhìn bọn trẻ đánh giày với con mắt khác, và đã chịu khó vui vẻ để chúng đánh giày mỗi khi tụ tập ra quán uống nước. Chúng tôi có lo xa hơn một chút, chắc cũng không thừa. Biết đâu trong đám trẻ đánh giày đang hí húi làm việc trước mặt chúng tôi đây, có ai đó thành đạt và lên làm quan to, rồi làm Sếp của chính cơ quan có con cái của mình sau này thì sao?

Thứ Năm, 10 tháng 7, 2008

Thần "đề"

Thần "đề"

Chuyện "đề" ở đây là nói đến chuyện chơi "đề" cờ bạc, mà trong dân gian vẫn gọi là "đề đóm".
Có thể nói không ngoa là ở nơi nào trên đất nước Việt Nam này người ta cũng biết đến chơi "đề". Có thể ai đó nói rằng họ không ham, không thích, hay thậm chí không chơi, nhưng chơi đề như thế nào, luật của nó ra sao, thì họ lại biết rõ. Cách chơi hết sức đơn giản. Chỉ cần bỏ ra một số tiền đặt cho "chủ đề" kèm theo một con số tự đoán có 2 chữ số. Nếu cuối ngày, so số đó với 2 số đuôi của giải sổ số đặc biệt (Hà Nội, hay của địa phương nào là do qui ước) mà trùng, thì người chơi được được nhận một số tiền gấp 70 lần số tiền đặt. Cái chỉ số gấp 70 lần ấy, chính là ma lực kéo người ta vào trò chơi. Hơn nữa, người chơi có thể đặt tiền chơi từ một nghìn đồng tới nhiều triệu đồng cho một số đoán. Nghĩa là đối tượng dân cư nào cũng có thể tham gia chơi nếu muốn, không cứ phải có nhiều hay ít tiền.
Trò chơi "đề" đã bị cấm, bị coi là đánh bạc, là phạm pháp, nhưng nó vẫn cứ phát triển khi công khai, lúc ngấm ngầm mà không có cách gì triệt bỏ được. Dù rằng đánh "đề" bị xếp vào loại tệ nạn xã hội, nhiều người tan cửa nát nhà, nhưng người ta vẫn chơi. Thậm chí nhà nước còn đặt ra một loại sổ số tương tự như cách chơi đề cho người ta chơi công khai để dẹp "đề" chui (hay cạnh tranh?), nhưng kết quả thu được vẫn không khả quan.

Anh Thiều, Trưởng phòng Quản trị cơ quan tôi là một người say mê món "đề" này. Anh say mê theo một kiểu đặc biệt, muốn nâng kỹ thuật "đánh đề" lên thành một môn khoa học. Không hiểu tìm tòi từ đâu, mà anh khăng khăng là kết quả của giải sổ số đặc biệt xuất hiện theo một quy luật. Lúc thì anh bảo qui luật đó có dính dáng đến toán học, môn xác suất thống kê. Lúc thì anh bảo, đơn giản chỉ là sự gắp thăm tự chọn của một nhóm người quản trị nào đấy, sau đó lái việc quay số mở thưởng theo cái kết quả gắp thăm có trước ấy. Trong túi anh luôn có một cuốn sổ nhỏ kèm theo cây bút bi. Lúc rỗi là lại thấy lôi ra ghi ghi chép chép, rồi tính toán. Nhìn vào cuốn sổ của anh thì chắc Shelockhome cũng chịu thua, không biết bắt đầu đọc từ đâu.
Anh Thiều chơi "đề" với mức đặt nho nhỏ, nhưng rất hay chơi. Đôi lúc cũng thấy anh "trúng". Khi đó, anh thường đến cơ quan sớm và đứng đón tôi ở cổng ra vào. Anh rủ tôi ra ăn sáng ở quán mỳ vằn thắn đầu phố, là món ăn anh thích khi có chút tiền. Dần dà, tôi cũng quen với lệ đó, và gọi món mỳ vằn thắn là món mỳ "đề". Vừa ăn mỳ, anh vừa hào hứng kể về tình tiết dẫn đến sự đoán trúng số "đề". Anh kể say sưa và phân tích có vẻ logic lắm, nhưng theo cách hiểu của tôi thì, khi mà người ta đã làm xong việc có kết quả rồi, thì phân tích thế nào chả đúng.
Chuyện anh được gọi là "Thần đề" thật lạ lùng và có chút huyền bí. Chỉ có thể cho đó là một loại ngẫu nhiên, nhưng cũng là sự ngẫu nhiên hiếm có.
Đấy là một lần anh "trúng" một "con đề" kha khá. Thái độ của anh có chiều khác so với mấy lần "trúng đề" trước. Anh có vẻ tự tin và ung dung hiếm thấy. Anh rủ cả một đám trong cơ quan ra quán nước, đãi kẹo lạc và thuốc lào. Chả là anh rất say món "thuốc lào Vĩnh Bảo". Rồi anh thì thào nghe có vẻ bí hiểm lắm. Thông tin mà anh đưa ra là anh đã tìm ra quy luật đề, với lời tuyên bố xanh rờn: "Từ nay, tớ mà đánh con nào là trúng con ấy". Cả bọn gật gù, nhưng nịnh anh là chính, chứ chưa tin lắm. Riêng bà hàng nước thì nhìn anh ngưỡng mộ như bụt sống hiện lên.
Khi mọi người đã đứng dậy ra về, anh ghé tai bà hàng nước và nói một con số. Tất cả chỉ cười, rồi ai về phòng nấy.
Chuyện lạ xảy ra. Tối hôm đó "đề" về đúng con số mà anh Thiều đã nói. Trưa hôm sau cả bọn lại láo nháo kéo nhau ra hàng nước, nhưng lần này do bà hàng nước khao. Bà ta đã đánh một "con đề" có mệnh giá 50.000 đồng và thu về ba triệu rưỡi. Bằng tới hai tháng lãi tiền nước chứ không phải chuyện chơi.
Cuối buổi, anh Thiều lại phán một con số. Thái độ của anh như một vị thần linh bao dung, độ lượng và tràn đầy nhân ái. Anh đang ban phát của cải của Ngọc Hoàng Thượng đế cho bàn dân thiên hạ. Lần này thì cả đám "chiến sĩ " trong cơ quan nhìn anh thần tượng. Mọi người đều nhẩm tính và lặng lẽ thử vận may cho riêng mình. Thông tin lúc đó vẫn chỉ gói gọn trong cái đám láo nháo ấy và thêm bà hàng nước được biết.
Tối hôm đó "đề" lại về đúng như anh Thiều đoán. Cái hội nước chè của anh Thiều, tuy buổi tối ai ở nhà nấy, nhưng đều chết lặng đi. Chết lặng vì sung sướng. Điện thoại tíu tít trong đêm.
Sáng sau, không chỉ anh Thiều, mà tất cả bọn đều đi ăn mỳ vằn thằn, khiến cô bán hàng vừa vui, vừa cuống cả lên vì thiếu chỗ ngối ở vỉa hè và phục vụ không kịp. Anh Thiều trở thành tâm điểm của giữa lố nhố những gương mặt tràn đầy hạnh phúc. Cả bọn lần lượt khai báo thành tích. Người mạnh dạn đánh to nhất trong cả bọn là thằng Dương, lái xe riêng cho Sếp. Nó thu về 14 triệu đồng, bằng gần một năm lương "cứng". Dương nhận trả tiền ăn sáng cho cả bọn.
Sáng hôm đó, hầu như chẳng ai làm việc gì nên hồn. Tất cả đều lóng ngóng, ngồi không yên chỗ. Cả bọn chỉ chờ đến giờ họp mặt buổi trưa. Lần này là hội tụ ở quán cà-phê "Con Gà" sang trọng giữa phố, chứ không phải ở quán nước chè thanh bạch nữa. Ai cũng nhìn anh Thiều như vị cứu tinh. Không khí hào hứng và rạo rực còn hơn cả khi toàn cơ quan nhận được cờ thi đua của Bộ, kèm số tiền đủ cho cả cơ quan được đi du thuyền một vòng quanh hồ Tây có tiệc đứng. Cà-phê xong, ai cũng tranh trả tiền khiến cô chủ quán xinh đẹp phải tròn xoe mắt nhìn các chàng trai đầy ngưỡng mộ. Trưa hôm đó, anh Thiều không tuyên bố ngay "con đề" tiếp theo, mà nháy mắt tỏ ý thần bí, hẹn cuối chiều sẽ phán.
Chưa đến 4 rưỡi chiều mà đám Fan hâm mộ đã tụ tập trước cửa phòng làm việc của anh Thiều. Ngoài những gương mặt quen thuộc trong cơ quan, bữa nay còn có thêm cả vài người tự xưng là bạn của anh Thiều. Họ làm ở cơ quan khác, nhưng là chiến hữu của anh từ thuở nào không rõ. Có anh bên Xây dựng, có anh ở bên Y tế. Lại có hẳn một ông chuyên viên có hàm râu quai nón rậm rì làm ở tận Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội. Tất cả bọn họ đã nghe được tin đồn từ đâu không rõ, là anh Thiều đã tìm ra qui luật "đề". Họ đến để xin lộc trời thông qua ông bạn tốt của họ.
Đúng 5 giờ chiều, anh Thiều mới mở cửa phòng, bước ra vươn vai. Có lẽ cái việc tính "đề" đã vắt đi của anh một phần không nhỏ sức lực của người đàn ông tuổi 45. Anh vui vẻ gọi tất cả vào phòng. Phòng thì chật, ghế ngồi có ít nên tất cả phải lao xao một lúc lâu mới ổn định trật tự. Anh Thiều chậm rãi đưa mắt nhìn tất cả một lượt rồi tuyên bố:
- Hôm nay "đề" về …. Nhưng xin các bố đừng có làm ồn ào quá. Việc này là tiết lộ thiên cơ, hao người lắm chứ không phải chơi đâu.
Cả bọn há mồm nuốt từng lời nói của anh Thiều, thấm nhuần tư tưởng. Sau đó tất cả rút lui có trật tự.
Tối về lại trúng đề. Nhân bảo như thần bảo. Thế là anh Thiều đã đoán đúng số "đề" tới 4 lần liên tiếp. Bây giờ thì tất cả những kẻ chầu rìa đều đã được hưởng "sái" và đã thu được một món lợi không nhỏ.
Sang đến buổi chiều của ngày thứ năm, mấy ông bạn hữu của anh Thiều đã mò sang từ sớm. Cái ông râu quai nón nhân danh bạn hữu anh Thiều và là người cao tuổi nhất tập trung tất cả lại và tổ chức ngay một cuộc họp nội bộ phía sau nhà bếp. Điều thứ nhất, ông suy tôn anh Thiều là "Thần đề", thiêng như Thánh sống. Cả bọn nhất trí ngay, không phải bàn cãi. Điều thứ hai, ông nêu ra tầm quan trọng và 2 lý do phải bảo vệ "Thần đề". Ông hùng hồn:
- Bây giờ anh Thiều chính là người đem lại cơm áo cho chúng ta. Nhưng đồng thời, anh cũng sẽ có hai kẻ thù to lớn và nguy hiểm. Thứ nhất là bọn chủ đề. Đối với chúng, anh Thiều là con dao hai lưỡi. Nếu anh theo chúng, chúng sẽ thâu tóm và lũng đoạn cả xã hội, vì khi đó, chúng nắm đằng chuôi trong mọi cuộc chơi "đề". Ngược lại, anh sẽ làm cho chúng nhanh chóng khuynh gia bại sản. Vì lợi, chúng có thể thủ tiêu anh Thiều bất cứ lúc nào. Thứ hai là nhà nước. Sổ số cũng có hình thức mua vé số chọn trước, giống như chơi đề. Khi đó, số phận của các Công ty sổ số nhà nước cũng không khác gì chủ đề khi liên tục phải trả thưởng những số tiền lớn. Nhà nước cũng có thể bắt tù anh Thiều bất cứ lúc nào.
Cả bọn nghe mà vừa sợ lại vừa lo cho anh Thiều. Nhưng bảo không đánh đề theo anh Thiều nữa thì không ai muốn bỏ.
Cuối cùng, ông râu quai nón tuyên bố:
- Vì thế bây giờ chúng ta phải đi vào bí mật. Không được tụ tập ồn ào, ầm ĩ. Nhất là phải khống chế số tiền chơi, không được đánh to quá dễ lộ.
Tất cả đồng ý và lập ra cả một Ban quản trị để điều hành.
Đề lại về lần thứ năm. Bây giờ thì ai cũng yên chí là nằm trong cái tổ chức "đánh đề" này rồi thì trước sau cũng sẽ giàu có. Đương nhiên là phải chấp hành kỷ luật thật nghiêm chỉnh.

Ngày thứ sáu, anh Thiều lại phán "đề". Nhưng cái chuyện giữ bí mật để bảo vệ anh có vẻ khó mà thực hiện. Đứa cháu bà hàng nước cùng mấy đứa bạn quanh phố sùng sục đòi vào cơ quan gặp anh Thiều. Chúng đã được bà hàng nước rỉ tai câu chuyện. Kiếm tiền dễ quá thì ai mà chả ham. Tham lam vốn là bản tính con người mà. Chúng cũng từng là "bạn đề" của anh Thiều từ lâu rồi, nên anh Thiều cũng khó mà lảng tránh cho được. Chắc cái đà này thì cả cơ quan, rồi cả phố sẽ giàu lên, hay tất cả sẽ tan tành ra mây khói, không ai có thể đoán hay dám nghĩ đến điều gì xa hơn.
*
Sau một chuyến đi công tác tỉnh xa dài ngày, cuối giờ ngày hôm đó tôi cũng về đến cơ quan. Tôi rẽ vào phòng anh Thiều chơi, bình thường như mọi khi. Ngồi uống xong chén nước, chợt anh Thiều bảo:
. Hình như ngày mai sinh nhật thằng lớn nhà cậu thì phải. Tớ có quà cho nó.
Tôi chợt thấy xúc động và bối rối trước sự quan tâm của anh. Nhưng tôi ngạc nhiên khi thấy anh đưa cho tôi mỗi tờ hai nghìn đồng. Từng này chỉ đủ mua hai chiếc kẹo lạc. Thấy vẻ ngơ ngác của tôi, anh xé mẩu giấy, viết gì vào đó rồi đưa tôi:
- Cậu về nhà ngay đi, nhớ rẽ qua hàng nước đánh hai nghìn con "đề" này là mai đủ tiền mua một hộp bánh to cho cháu.
Rồi anh đút hai tay vào túi, ngửa mặt lên trần nhà vẻ phớt Ăng-lê và chậm rãi đánh gót đi về cuối phòng. Tôi vẫn ngơ ngác không hiểu thế nào, nhưng vẫn phải chào anh rồi rút lui.
Về đến gần nhà, nhớ lời anh Thiều dặn tôi rẽ qua hàng nước xin đánh con "đề". Bà hàng nước vốn quen mặt mà hôm nay nhìn tôi như nhìn người từ trên trời rơi xuống. Nhưng rồi bà cũng ghi đề cho tôi. Mảnh giấy anh Thiều ghi cho tôi có số 88.
Tối đó tôi không xem Ti vi, cũng không hỏi kết quả. Sáng hôm sau ở cơ quan, phải đến nửa buổi tôi mới nhớ ra và mở tờ báo Hà Nội mới ra xem. Hai số đuôi của giải đặc biệt không phải số 88. Tôi khẽ cười và gấp tờ báo lại. Chắc anh Thiều nghĩ ra trò gì vui đùa mình.

Về sau tôi mới biết cái chuyện anh Thiều đoán đúng "đề" năm lần liên tiếp. Còn sáng hôm đó trong cơ quan tôi có cả một lũ ngẩn ngơ. Chúng nó ngơ ngác nhìn nhau như đám gà con lạc mẹ.
Hôm sau, rồi những hôm sau nữa, anh Thiều không còn đoán đúng "đề" nữa. Cả đám hâm mộ trong cơ quan lẫn các "chiến hữu" của anh Thiều tự nhiên giải tán dần hết. Ông râu quai nón cũng không còn phải lo lên kế hoạch chi tiết để bảo vệ "Thần đề" nữa.
Chắc anh Thiều vẫn tiếp tục chơi "đề" nho nhỏ như ngày trước. Có thể cũng có lúc anh trúng, nhưng cái sự ngẫu nhiên kể ở trên thì không bao giờ lặp lại nữa.
Tôi cũng không còn nhớ lần cuối cùng anh Thiều mời tôi đi ăn mỳ vằn thắn buổi sáng là khi nào.

Vũ Công Chiến