Bấy giờ là cuối năm 1986. Chiến tranh mới qua đi có 11 năm.
Chúng tôi thuộc một cơ quan làm kỹ thuật về ngành điện tử. Chúng tôi len lỏi đi các nơi tìm kiếm hợp đồng, và hầu như ở nơi nào cũng được đón tiếp nồng nhiệt.
Một lần, anh Lâm trưởng phòng kỹ thuật đưa ba chúng tôi lên Kim Bôi, Hòa Bình theo lời mời của một người bạn làm Giám đốc nông trường, nhân thể tìm công việc. Trong ba chúng tôi chỉ có kỹ sư Tùng còn trẻ, mới 27 tuổi, còn tôi và Kiên vốn là bộ đội chuyển ngành đều ngoài 30 tuổi, đã có vợ. Cậu Dương lái xe cũng vốn là lính.
Chiếc xe UAZ đưa nhóm chúng tôi lên Lương Sơn, rẽ qua Kim Bôi rồi đi vào một nông trường nằm ở một thung lũng sát hai quả núi vào một buổi chiều. Bạn anh Lâm là Giám đốc nông trường này. Dọc hai bên đường vào nông trường là các đồi ngô, sắn. Chúng tôi chỉ thấy toàn chị em phụ nữ đang lao động. Thấy xe chúng tôi, họ đều ngẩng đầu lên nhìn, có chị còn vẫy nón ra chiều thân mật như người nhà. Vào đến trụ sở, dừng xe, chúng tôi được mời vào một hội trường rộng làm toàn bằng tre nứa, nền đất nện. Cơ sở vật chất có vẻ còn nghèo nàn. Cả Ban Giám đốc ba người đều ra đón chúng tôi. Ông nhiều tuổi nhất chắc cũng chưa đến 50. Chúng tôi nhìn quanh, không hiểu nông trường trồng toàn ngô với sắn, chẳng có một thứ máy móc gì thế này thì cần gì đến điện tử mà anh Lâm đưa chúng tôi lên đây tìm kiếm hợp đồng.
Ông Giám đốc lôi ra mấy cái cốc thủy tinh và một ấm giỏ to tướng rót nước vối mời chúng tôi. Chào hỏi nhau được độ hai tuần nước, ông Giám đốc đứng lên xoa hai tay vào nhau, trịnh trọng nhưng không kém đi vẻ vui mừng:
- Báo cáo các đồng chí, nông trường chúng tôi đây có tới 150 chị em, phần đông là thanh niên xung phong từ chiến trường trở về. Các cô ấy đều không có gia đình, hoàn cảnh rất đáng thương. Ban Giám đốc chúng tôi chỉ có ba người, quản lý không xuể. Nay thấy các đồng chí lên đây hỗ trợ "tăng cường", đội ngũ hùng hậu như thế này, chúng tôi rất mừng. Để mời các đồng chí tối nay nghỉ lại cơm nước và giao lưu cùng chị em luôn thể.
Chúng tôi chưa hiểu rõ chuyện gì, nhưng thấy người ta đón tiếp mình vui vẻ là thích rồi.
Tối đó, năm chúng tôi (kể cả lái xe mà) cơm nước đơn giản với hai món chủ lực là sắn và ngô xong là ra luôn hội trường giao lưu cùng chị em công nhân. Chị em công nhân rất cởi mở, họ nói chuyện và tiếp nước chúng tôi có phần chiều chuộng. Hơn một trăm cô gái tuổi mới chỉ ngoài ba mươi một chút. Khi chiến tranh kết thúc, họ là những cô thanh niên xung phong mới 21, 22 tuổi. Ba bốn năm cống hiến tuổi xuân trong tuyến lửa, họ là những con người phi thường, cả nước khâm phục. Nhưng khi trở về nhà sau chiến tranh thì họ lại là những cô gái quá lứa lỡ thì, nhất là trong cảnh làng quê hiếm hoi đàn ông sau chiến tranh. Thế là các cô lại rời quê hương ra đi, tụ hội nhau trên nông trường này. Cả chục năm trời vùn vụt trôi qua tự lúc nào, họ không còn là thanh niên nữa, song cũng không được làm đàn bà. Họ không có chồng, nhưng vẫn muốn được quyền làm mẹ. Đất nước thống nhất cả chục năm trời, Hội phụ nữ Việt Nam kiên trì vất vả thuyết phục và đấu tranh với ngành Tư pháp mãi mới đem lại được cho những người có hoàn cảnh thiệt thòi như các chị quyền được sinh con không giá thú. Nhưng các chị lại gặp nỗi khó khăn là sinh con với ai bây giờ, vì một yêu cầu đặt ra là các chị được sinh con, nhưng phải giấu tên bố. Hơn một trăm con người các chị ở cái nơi heo hút này với nhõn ba người đàn ông trong Ban Giám đốc thì biết làm sao. Trong nông trường cũng đã có mấy chị được làm mẹ, cả tập thể quan tâm chăm sóc, nhưng tất cả mọi người đều phải hiểu một qui định bất thành văn là bố các cháu không phải là các bác trong Ban Giám đốc.
Dần dà, chúng tôi hiểu ra ý tứ trong phát biểu của ông Giám đốc lúc chiều. Rõ khổ. Té ra ông tưởng anh Lâm bạn ông đưa nhóm trai tráng chúng tôi lên đây "tăng cường" cho nông trường. Chúng tôi vừa thương cho các chị công nhân, vừa lo lắng, vừa thẹn thùng. Từ chỗ vui vẻ chan hòa ban đầu, chúng tôi trở nên lúng túng. Cái chuyện như thế này thật hết sức tế nhị và nhạy cảm. Dù gì thì con người vẫn là con người. Mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng mà. Làm sao quan hệ khi chỉ có tình thương. Mà không ai lại có thể làm ngơ nếu biết trên đời này có một “giọt máu” của mình. Còn vợ con chúng tôi nữa chứ. Chúng tôi thương cảm với các chị nhiều lắm, vì thanh niên xung phong các chị với bộ đội chúng tôi trong chiến tranh đều vất vả và chịu nhiều hy sinh mất mát như nhau. Tuy chính sách đãi ngộ với bộ đội còn rất khiêm tốn, nhưng chắc cũng rõ ràng và nhiều hơn so vói thanh niên xung phong.
Chưa nói gì đến nhóm năm người chúng tôi, mà giả sử tất cả đàn ông trong cơ quan chúng tôi có được huy động lên hết cả đây để "tăng cường" cho nông trường thì cũng không xuể. Đấy là chưa kể có phải ai cũng "tăng cường" được đâu. Rồi đủ thứ chuyện khác nữa chứ. Có lẽ cái ý định giao lưu kết nghĩa kiểu như thế này chẳng có ở đâu trên thế giới.
Sáng hôm sau, nhóm cán bộ chúng tôi cơm nước qua loa rồi rút lui sớm. Dọc đường về, chúng tôi chất vấn anh Lâm. Chắc bố đã có một "nhau" trên này nên kéo anh em lên cho có đồng bọn chứ gì?
Nhưng tóm lại là không thể ký được hợp đồng này. Phải chấp nhận ra về tay không thôi.
Nhiều năm trôi qua rồi, trong chúng tôi không có ai trở lại nông trường, kể cả anh Lâm. Có lẽ anh cũng biết thêm chút tin tức gì đó qua ông Giám đốc bạn anh, nhưng anh không nói. Trên báo chí, một đôi lần cũng có phóng sự nói về hoàn cảnh và số phận của những nữ thanh niên xung phong sau chiến tranh, nhưng cách giải quyết và tương lai cho họ ra sao thì không ai nói tới. Có lẽ đất nước còn quá nhiều việc lớn hơn cần phải làm. Dầu sao, chuyện về các chị em TNXP sau chiến tranh cũng là một vết đen buồn trong tâm tưởng những người lính chúng tôi.
Thứ Sáu, 15 tháng 8, 2008
Thứ Sáu, 8 tháng 8, 2008
Kể chuyện chí phèo, cuộc đời hay phim ảnh?
Chí Phèo thực ra là dân gốc xóm Đại. Làng chỉ có hai xóm là Đại và Vũ, hợp lại thành làng Vũ Đại. Chí Phèo là một thanh niên nông dân cường tráng và ưa nhìn. Tên cúng cơm thì cũng chỉ là Chí thôi. Nhưng Chí nổi bật hơn tất cả trai tráng ù lì trong thôn bởi tính tình bộc trực và can đảm, không sợ cường quyền. Cái chất con người của Chí được ví như khúc "phèo" trong con lợn, nơi chứa đầy chất lỏng đặc sệt như nước gạo pha sữa nằm ngay sát dạ dày. Người dân tộc khi chia thịt lợn có thể chênh nhau mỗi phần tới một hai cân cũng không có vấn đề gì, nhưng chia cái khúc "phèo" ấy thì không thể không đều tới từng phân. Vì thế Chí mới có tên là Chí Phèo. Cái từ "phèo" là theo nghĩa tốt lắm đấy.
Làng Vũ Đại nằm ở vùng đồng chiêm trũng, nơi làng nào cũng có nghề đóng gạch. Cái lò gạch Làng Vũ Đại thuộc loại to nhất Tổng, nhưng đến mùa chiêm thì cũng đành phải bỏ hoang, trở thành nơi trú ngụ cho Chí phèo trong những đêm đông mưa phùn gió bấc, hay lúc gặp bão mưa gió dầm dề. Trời quang mây tạnh thì chân đạp đất, đầu đội trời, ngả lưng đâu thì nơi đó là giường.
Chí Phèo không cha không mẹ, nhà cửa ruộng vườn chẳng có gì, nên quanh năm chỉ đi làm thuê kiếm sống. Thực ra, người làng vẫn đồn vụng Chí phèo là con rơi của lão Bá Kiến. Vì thế trong làng chỉ có mình Chí Phèo là dám chửi Bá Kiến. Thường thì chỉ chửi vào lúc say, nhưng nếu như có chửi trong lúc tỉnh thì cũng chẳng việc gì. Dao sắc không gọt được chuôi. Chí Phèo như người gánh hạn cho cả nhà, nên lão Bá Kiến cũng chỉ dám mắng dọa Chí Phèo lấy lệ. Lý Cường là con công khai của Bá Kiến, làm chức dịch trong làng nên cũng đôi lần ra oai dọa nạt Chí Phèo. Thì là dọa vậy thôi, chứ thử xắn tay áo vào xới mà xem, cái vóc lẻo khoẻo lèo khoèo của Lý Cường may lắm cũng chỉ chịu nổi chưa quá ba hồi trống là lấm lưng trắng bụng với Chí Phèo. Mẹ Chí Phèo vốn cũng là ngưòi đàn bà lực điền, chứ có đâu ẻo lả con quan như mẹ của Lý Cường. Hổ mẫu sinh hổ tử mà. Tiếc là bà bán sới khỏi quê từ lúc nào, không để cho Chí Phèo được thấy mặt.
Vợ ba của Bá Kiến chỉ hơn Chí Phèo vài tuổi. Làm vợ Bá Kiến là theo sự ép gả thôi chứ cũng chẳng sóng đôi gì. Suốt ngày quanh quẩn trong khu nhà, tuy rộng nhưng vẫn là bị "nhốt" sau hai cánh cổng gỗ lim. Bá Kiến tuy có bồi bổ thuốc phiện để tăng lực, nhưng lại hay rượu nên tạng người đã chuyển dạng "chân ống giang, đầu gối củ lạc", không làm nên cơm cháo gì. Thế cho nên mỗi lần Chí Phèo tìm đến nhà Bá Kiến chửi ngoặng là chị ta khoái lắm. Cánh cửa lim cổng nhà Bá Kiến đâm ra cứ hay bị mở chốt gỗ vô tình, dễ bề cho kẻ gian lẻn vào. May là Chí Phèo vừa đi vừa chửi như ngưòi đánh động, chứ nếu cứ im lặng mà tiến thì có ngày Bá Kiến bị gí mảnh chai vỡ vào cổ lúc nào cũng chưa biết chừng. Nhưng vợ ba Bá Kiến cũng chỉ nhìn Chí Phèo cho vui mắt thế thôi, chứ lúc nào đến nhà mà cũng trong trạng thái say, lại chửi ông ổng cho cả làng nghe thế thì còn làm ăn được gì.
Có một điều cả làng Vũ Đại không biết rõ, ấy là Chí Phèo chỉ say giả vờ thôi. Bần hàn thế thì lấy đâu ra tiền mua rượu. Hơn nữa, nếu Chí Phèo suốt ngày uống rượu, lục phủ ngũ tạng bị ngâm trong rượu mãi thì làm sao còn sức mà cày thuê cuốc mướn.
Có lẽ cả làng cả nước cũng không mấy ai biết đến Chí Phèo đâu, nếu như cuộc đời anh ta không gặp được Thị Nở trong cái lò gạch cuối làng. Mới hay cái sự đời nó lạ lùng thế đấy. Chỗ nào cũng thế thôi. Từ chốn thâm cung, chỗ quan trường đến nơi thôn quê dân dã, phải có tí hơi đàn bà vào thì cuộc đời nó mới ầm vang lên được. "Có nam có nữ mới nên xuân" mà. Bát cháo hành của Thị Nở đã vực dậy cả một cuộc đời lầm lũi, đã làm xoay chuyển cả cuộc đời của một con người có vẻ như đang nằm ở tận cùng của xã hội.
*
Sau cách mạng tháng Tám, người ta không thấy Chí Phèo trong cái làng Vũ Đại ấy nữa. Có thể anh đã tham gia cùng nhân dân đi cướp chính quyền tại một địa phương khác. Không hiểu Chí Phèo có trong đoàn quân Nam tiến sau ngày Nam Bộ kháng chiến 23/9/1945 không? Nhưng chắc chắn trong chín năm kháng chiến chống Pháp, anh đã tham gia du kích ở Nam Bộ. Sau Hiệp Định Giơ-ne-vơ 1954, Chí Phèo cũng không tập kết ra Bắc, mà ở lại miền Nam.
Đầu năm 1964, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mac-na-ma-ra sang thăm chính quyền Việt Nam Cộng hòa của Tướng Nguyễn Khánh. Tại cầu Công Lý trên đường Tự Do, chiến sĩ biệt động Sài Gòn Nguyễn Văn Trỗi đã đặt bom mưu sát Mac-na-ma-ra, nhưng không thành. Ngày 15/10 năm đó, Nguyễn Văn Trỗi đã bị xử bắn tại trường bắn Chí Hòa.
Cũng trong đợt Mac-na-ma-ra sang thăm Việt Nam Cộng hòa ấy, Chí Phèo đã tự phát rủ một ngưòi bạn du kích từ hồi chín năm đón đường ném lựu đạn nhằm mưu sát Mac-na-ma-ra ngay trên đường phố Sài Gòn. Không may, lựu đạn bị tịt không nổ, nên Mac-na-ma-ra thoát chết. Cũng từ đó về sau, viên tướng Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ này không bao giờ dám sang thăm Nam Việt Nam nữa. Hãi đến già.
Năm 1964, Tư Chung được Bộ tư lệnh Miền (Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam) cử vào Sài gòn để tổ chức lại và chỉ huy Biệt động Sài gòn đánh vào các mục tiêu có nhiều sĩ quan Mỹ nhằm tiêu hao sinh lực địch. Chí Phèo đã cùng Sáu Tâm chủ động tìm cách liên lạc với Bộ Tư lệnh Sài gòn mà người chỉ huy cao nhất chính là Tư Chung. Cũng chính Chí Phèo là một trong những chiến sĩ đầu tiên của Biệt động Sài Gòn. Anh đã tham gia nhiều trận đánh, từ nhà hàng Mỹ Cảnh bên sông Sài gòn, khách sạn Caravel, Câu lạc bộ không quân Mỹ đến khu cơ quan Đại sứ Mỹ cũ. Lập nhiều chiến công, trở thành dân Sài gòn thứ thiệt, nhưng cái vẻ mặt của anh trông lúc nào cũng "Phèo" như khi còn ở làng Vũ Đại.
Mậu Thân 1968, trong chiến dịch Tổng tấn công và nổi dậy của quân và dân miền Nam, Chí Phèo được giao phụ trách một mũi đặc công gồm 15 chiến sĩ đánh vào khu Đại sữ quán Mỹ (mới) trên đại lộ nằm thẳng hướng trước dinh Độc lập. Đội của anh đã lập nên kỳ tich với những tình tiết như trong huyền thoại. Khi cả đội đang xung phong vào cổng cơ quan Đại sứ quán Mỹ, thì vấp phải lính quân cảnh Ngụy canh gác vòng ngoài. Để đỡ tốn đạn và tổn thất cho trận chiến đấu chính, Chí phèo đã vừa xung phong vừa hô to:
- Anh em binh sĩ ngụy quân hãy lui ra. Chúng tôi không đánh người Việt. Hãy mở đường cho chúng tôi vào đánh Mỹ.
"Giải phóng không động tới mình, thì mình động tới họ làm chi. Càng đỡ phải đánh nhau, đỡ phải sứt đầu mẻ trán". Thế là đám quân cảnh Ngụy dạt ra, rộng đường cho Chí Phèo cùng các chiến sĩ của mình lao vào tìm đánh Mỹ.
Về sau cũng chính vì chuyện này mà sau chiến cuộc Mậu Thân, đại sứ Mỹ Ellsworth Bunker đã phải chỉ tay vào mặt Tổng thống Việt Nam cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu mà chửi rầm rầm: "Chúng tôi vượt nửa vòng trái đất qua đây giúp các ông đánh cộng sản, vậy mà lính của ông né ra cho tụi VC vào đánh lính Mỹ chúng tôi, thì các ông còn là đồng minh cái nỗi gì nữa".
Chỉ có mỗi 15 người lính mà đánh cả một tòa Đại sứ Mỹ. Lực lượng quá mỏng manh, những chiến sĩ biệt động lần lượt hy sinh. Chí Phèo đã đánh lên tận cùng tầng gác tòa Đại sứ, bị bịt mất cầu thang, bị thả khói độc và đã anh dũng hy sinh.
Không biết ở làng Vũ Đại còn ai thắp hương cho anh không, nhưng chắc chắn trong một nghĩa trang liệt sĩ nào đó, trong một ngôi mộ vô danh nào đó có anh: Chí Phèo ở làng Vũ Đại.
*
Không biết những nội dung suy đoán trên có đúng không, nhưng đấy là do Trinhsat rút ra sau khi lần lượt xem hai bộ phim "Làng Vũ Đại ngày ấy" và "Biệt động Sài Gòn".
Làng Vũ Đại nằm ở vùng đồng chiêm trũng, nơi làng nào cũng có nghề đóng gạch. Cái lò gạch Làng Vũ Đại thuộc loại to nhất Tổng, nhưng đến mùa chiêm thì cũng đành phải bỏ hoang, trở thành nơi trú ngụ cho Chí phèo trong những đêm đông mưa phùn gió bấc, hay lúc gặp bão mưa gió dầm dề. Trời quang mây tạnh thì chân đạp đất, đầu đội trời, ngả lưng đâu thì nơi đó là giường.
Chí Phèo không cha không mẹ, nhà cửa ruộng vườn chẳng có gì, nên quanh năm chỉ đi làm thuê kiếm sống. Thực ra, người làng vẫn đồn vụng Chí phèo là con rơi của lão Bá Kiến. Vì thế trong làng chỉ có mình Chí Phèo là dám chửi Bá Kiến. Thường thì chỉ chửi vào lúc say, nhưng nếu như có chửi trong lúc tỉnh thì cũng chẳng việc gì. Dao sắc không gọt được chuôi. Chí Phèo như người gánh hạn cho cả nhà, nên lão Bá Kiến cũng chỉ dám mắng dọa Chí Phèo lấy lệ. Lý Cường là con công khai của Bá Kiến, làm chức dịch trong làng nên cũng đôi lần ra oai dọa nạt Chí Phèo. Thì là dọa vậy thôi, chứ thử xắn tay áo vào xới mà xem, cái vóc lẻo khoẻo lèo khoèo của Lý Cường may lắm cũng chỉ chịu nổi chưa quá ba hồi trống là lấm lưng trắng bụng với Chí Phèo. Mẹ Chí Phèo vốn cũng là ngưòi đàn bà lực điền, chứ có đâu ẻo lả con quan như mẹ của Lý Cường. Hổ mẫu sinh hổ tử mà. Tiếc là bà bán sới khỏi quê từ lúc nào, không để cho Chí Phèo được thấy mặt.
Vợ ba của Bá Kiến chỉ hơn Chí Phèo vài tuổi. Làm vợ Bá Kiến là theo sự ép gả thôi chứ cũng chẳng sóng đôi gì. Suốt ngày quanh quẩn trong khu nhà, tuy rộng nhưng vẫn là bị "nhốt" sau hai cánh cổng gỗ lim. Bá Kiến tuy có bồi bổ thuốc phiện để tăng lực, nhưng lại hay rượu nên tạng người đã chuyển dạng "chân ống giang, đầu gối củ lạc", không làm nên cơm cháo gì. Thế cho nên mỗi lần Chí Phèo tìm đến nhà Bá Kiến chửi ngoặng là chị ta khoái lắm. Cánh cửa lim cổng nhà Bá Kiến đâm ra cứ hay bị mở chốt gỗ vô tình, dễ bề cho kẻ gian lẻn vào. May là Chí Phèo vừa đi vừa chửi như ngưòi đánh động, chứ nếu cứ im lặng mà tiến thì có ngày Bá Kiến bị gí mảnh chai vỡ vào cổ lúc nào cũng chưa biết chừng. Nhưng vợ ba Bá Kiến cũng chỉ nhìn Chí Phèo cho vui mắt thế thôi, chứ lúc nào đến nhà mà cũng trong trạng thái say, lại chửi ông ổng cho cả làng nghe thế thì còn làm ăn được gì.
Có một điều cả làng Vũ Đại không biết rõ, ấy là Chí Phèo chỉ say giả vờ thôi. Bần hàn thế thì lấy đâu ra tiền mua rượu. Hơn nữa, nếu Chí Phèo suốt ngày uống rượu, lục phủ ngũ tạng bị ngâm trong rượu mãi thì làm sao còn sức mà cày thuê cuốc mướn.
Có lẽ cả làng cả nước cũng không mấy ai biết đến Chí Phèo đâu, nếu như cuộc đời anh ta không gặp được Thị Nở trong cái lò gạch cuối làng. Mới hay cái sự đời nó lạ lùng thế đấy. Chỗ nào cũng thế thôi. Từ chốn thâm cung, chỗ quan trường đến nơi thôn quê dân dã, phải có tí hơi đàn bà vào thì cuộc đời nó mới ầm vang lên được. "Có nam có nữ mới nên xuân" mà. Bát cháo hành của Thị Nở đã vực dậy cả một cuộc đời lầm lũi, đã làm xoay chuyển cả cuộc đời của một con người có vẻ như đang nằm ở tận cùng của xã hội.
*
Sau cách mạng tháng Tám, người ta không thấy Chí Phèo trong cái làng Vũ Đại ấy nữa. Có thể anh đã tham gia cùng nhân dân đi cướp chính quyền tại một địa phương khác. Không hiểu Chí Phèo có trong đoàn quân Nam tiến sau ngày Nam Bộ kháng chiến 23/9/1945 không? Nhưng chắc chắn trong chín năm kháng chiến chống Pháp, anh đã tham gia du kích ở Nam Bộ. Sau Hiệp Định Giơ-ne-vơ 1954, Chí Phèo cũng không tập kết ra Bắc, mà ở lại miền Nam.
Đầu năm 1964, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mac-na-ma-ra sang thăm chính quyền Việt Nam Cộng hòa của Tướng Nguyễn Khánh. Tại cầu Công Lý trên đường Tự Do, chiến sĩ biệt động Sài Gòn Nguyễn Văn Trỗi đã đặt bom mưu sát Mac-na-ma-ra, nhưng không thành. Ngày 15/10 năm đó, Nguyễn Văn Trỗi đã bị xử bắn tại trường bắn Chí Hòa.
Cũng trong đợt Mac-na-ma-ra sang thăm Việt Nam Cộng hòa ấy, Chí Phèo đã tự phát rủ một ngưòi bạn du kích từ hồi chín năm đón đường ném lựu đạn nhằm mưu sát Mac-na-ma-ra ngay trên đường phố Sài Gòn. Không may, lựu đạn bị tịt không nổ, nên Mac-na-ma-ra thoát chết. Cũng từ đó về sau, viên tướng Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ này không bao giờ dám sang thăm Nam Việt Nam nữa. Hãi đến già.
Năm 1964, Tư Chung được Bộ tư lệnh Miền (Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam) cử vào Sài gòn để tổ chức lại và chỉ huy Biệt động Sài gòn đánh vào các mục tiêu có nhiều sĩ quan Mỹ nhằm tiêu hao sinh lực địch. Chí Phèo đã cùng Sáu Tâm chủ động tìm cách liên lạc với Bộ Tư lệnh Sài gòn mà người chỉ huy cao nhất chính là Tư Chung. Cũng chính Chí Phèo là một trong những chiến sĩ đầu tiên của Biệt động Sài Gòn. Anh đã tham gia nhiều trận đánh, từ nhà hàng Mỹ Cảnh bên sông Sài gòn, khách sạn Caravel, Câu lạc bộ không quân Mỹ đến khu cơ quan Đại sứ Mỹ cũ. Lập nhiều chiến công, trở thành dân Sài gòn thứ thiệt, nhưng cái vẻ mặt của anh trông lúc nào cũng "Phèo" như khi còn ở làng Vũ Đại.
Mậu Thân 1968, trong chiến dịch Tổng tấn công và nổi dậy của quân và dân miền Nam, Chí Phèo được giao phụ trách một mũi đặc công gồm 15 chiến sĩ đánh vào khu Đại sữ quán Mỹ (mới) trên đại lộ nằm thẳng hướng trước dinh Độc lập. Đội của anh đã lập nên kỳ tich với những tình tiết như trong huyền thoại. Khi cả đội đang xung phong vào cổng cơ quan Đại sứ quán Mỹ, thì vấp phải lính quân cảnh Ngụy canh gác vòng ngoài. Để đỡ tốn đạn và tổn thất cho trận chiến đấu chính, Chí phèo đã vừa xung phong vừa hô to:
- Anh em binh sĩ ngụy quân hãy lui ra. Chúng tôi không đánh người Việt. Hãy mở đường cho chúng tôi vào đánh Mỹ.
"Giải phóng không động tới mình, thì mình động tới họ làm chi. Càng đỡ phải đánh nhau, đỡ phải sứt đầu mẻ trán". Thế là đám quân cảnh Ngụy dạt ra, rộng đường cho Chí Phèo cùng các chiến sĩ của mình lao vào tìm đánh Mỹ.
Về sau cũng chính vì chuyện này mà sau chiến cuộc Mậu Thân, đại sứ Mỹ Ellsworth Bunker đã phải chỉ tay vào mặt Tổng thống Việt Nam cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu mà chửi rầm rầm: "Chúng tôi vượt nửa vòng trái đất qua đây giúp các ông đánh cộng sản, vậy mà lính của ông né ra cho tụi VC vào đánh lính Mỹ chúng tôi, thì các ông còn là đồng minh cái nỗi gì nữa".
Chỉ có mỗi 15 người lính mà đánh cả một tòa Đại sứ Mỹ. Lực lượng quá mỏng manh, những chiến sĩ biệt động lần lượt hy sinh. Chí Phèo đã đánh lên tận cùng tầng gác tòa Đại sứ, bị bịt mất cầu thang, bị thả khói độc và đã anh dũng hy sinh.
Không biết ở làng Vũ Đại còn ai thắp hương cho anh không, nhưng chắc chắn trong một nghĩa trang liệt sĩ nào đó, trong một ngôi mộ vô danh nào đó có anh: Chí Phèo ở làng Vũ Đại.
*
Không biết những nội dung suy đoán trên có đúng không, nhưng đấy là do Trinhsat rút ra sau khi lần lượt xem hai bộ phim "Làng Vũ Đại ngày ấy" và "Biệt động Sài Gòn".
Chủ Nhật, 3 tháng 8, 2008
Vợ ơi, nàng là ai
Trận ốm nặng tưởng lên đường đi mãi
May có vợ hiền, bè bạn, người thân
Chăm sóc sớm hôm, mọi nhẽ, muôn phần,
Nên trần thế đón nhận ta trở lại.
Ta chỉ là kẻ chân đất áo vải, sinh ra cũng tại làng quê, nhà cũng có mảnh vườn, sân gạch. Vốn thương con không muốn cảnh nấp mãi sau lũy tre làng, thuở thiếu thời cũng được me cha cho theo đòi ăn học. Chữ nghĩa học đủ ba trường, nhưng trường đời chưa một lần từng trải. Lớn lên gặp cảnh binh đao, đất nước điêu tàn phân chia hai miền Nam Bắc. Trai thời loạn không thể ngồi không hưởng lạc, nên cùng trai làng chinh chiến xông pha. Những tưởng chiến trường ác liệt, thân trai đền nợ nước cũng đành.
Thế mà bom đạn chê(?), không phải. Chúng tránh ta để cho ta có được ngày về. "Chàng là của em, phận duyên định thế. Nên chàng phải trở về với vợ, là em". Người con gái đất trung du rừng cọ đồi chè đồi sim bát ngát, đã nói như vầy trong ngày lễ vu qui. Ta xúc động nghe tuy chẳng nói lời gì, nhưng thầm nghĩ số trời chắc vậy.
Nàng còn là học sinh, khi ta đã là người lính. Thế tất nên nàng nhỏ tuổi hơn ta. Lúc đầu ta gọi nàng là em, khi có tình gọi người yêu trên miệng. Lúc cưới rồi gọi nàng là vợ, một từ thôi mà thật thiêng liêng. Trong cuộc đời có lúc ưu phiền, hoặc có lúc vui, hay có điều thầm kín. Tâm sự cùng nàng, ta gọi bạn tâm giao.
Lúc nào cũng thấy nàng bé bỏng biết bao, khi ta tự cho mình là người anh, là chỗ dựa. Tất nhiên trừ lúc ta mắc lỗi, lớn nhỏ gì nàng cũng phải gắt to. Chỉ lúc đó mới thấy nàng không nhỏ, còn ta lặng im bé lại một phần. Nhưng nói gì ta vẫn nhận phần hơn, luôn thương nàng người vợ hiền bé bỏng.
Con người ta không ai khỏe mãi, đá sỏi gì cũng có lúc đổ mồ hôi. Khi ốm rồi mới hiểu thêm tình vợ, nghĩa phu thê truyền thống của dân mình. Nàng đắp thêm chăn vào những đêm đông, hay quạt cho ta trong chiều hè mất điện. Dịu dàng bón cho ta từng thìa cháo nhỏ, bát cháo hành giải cảm của dân gian. Những viên thuốc đủ màu nhỏ bé xinh xinh, nàng dỗ dành ta gắng mình cố nuốt. Hay có những đêm đông rét buốt, nàng thức cả đêm lo ta từng cái trở mình. ÔI, cảm động biết bao, không nói hết nghĩa tình, ta thấy nàng lại như là chị ta, thậm chí như người mẹ. Chăm chút cho con, dù là Thánh Gióng đã hơn người.
Chuyện chỉ là đời thường thế thôi, nhưng làm người rồi không thể là không nghĩ. Lúc ốm ta mong nàng về như trẻ con mong mẹ. Chờ chiếc bánh đa, hay chờ tiếng nàng cười(?). Mọi khó khăn rồi sẽ lại qua thôi, sẽ đến ngày sức ta khỏe lại.
Thế rồi ta thầm nhủ lòng mãi mãi. Trong cuộc đời này dù chớp giật mưa giông, dù sóng bể mưa nguồn hay nắng gắt, chiều đông. Không bao giờ quên ân nghĩa vợ chồng cùng vợ. Ta sẽ nói điều này với vợ, anh sẽ đem về mùa xuân mãi cho em.
May có vợ hiền, bè bạn, người thân
Chăm sóc sớm hôm, mọi nhẽ, muôn phần,
Nên trần thế đón nhận ta trở lại.
Ta chỉ là kẻ chân đất áo vải, sinh ra cũng tại làng quê, nhà cũng có mảnh vườn, sân gạch. Vốn thương con không muốn cảnh nấp mãi sau lũy tre làng, thuở thiếu thời cũng được me cha cho theo đòi ăn học. Chữ nghĩa học đủ ba trường, nhưng trường đời chưa một lần từng trải. Lớn lên gặp cảnh binh đao, đất nước điêu tàn phân chia hai miền Nam Bắc. Trai thời loạn không thể ngồi không hưởng lạc, nên cùng trai làng chinh chiến xông pha. Những tưởng chiến trường ác liệt, thân trai đền nợ nước cũng đành.
Thế mà bom đạn chê(?), không phải. Chúng tránh ta để cho ta có được ngày về. "Chàng là của em, phận duyên định thế. Nên chàng phải trở về với vợ, là em". Người con gái đất trung du rừng cọ đồi chè đồi sim bát ngát, đã nói như vầy trong ngày lễ vu qui. Ta xúc động nghe tuy chẳng nói lời gì, nhưng thầm nghĩ số trời chắc vậy.
Nàng còn là học sinh, khi ta đã là người lính. Thế tất nên nàng nhỏ tuổi hơn ta. Lúc đầu ta gọi nàng là em, khi có tình gọi người yêu trên miệng. Lúc cưới rồi gọi nàng là vợ, một từ thôi mà thật thiêng liêng. Trong cuộc đời có lúc ưu phiền, hoặc có lúc vui, hay có điều thầm kín. Tâm sự cùng nàng, ta gọi bạn tâm giao.
Lúc nào cũng thấy nàng bé bỏng biết bao, khi ta tự cho mình là người anh, là chỗ dựa. Tất nhiên trừ lúc ta mắc lỗi, lớn nhỏ gì nàng cũng phải gắt to. Chỉ lúc đó mới thấy nàng không nhỏ, còn ta lặng im bé lại một phần. Nhưng nói gì ta vẫn nhận phần hơn, luôn thương nàng người vợ hiền bé bỏng.
Con người ta không ai khỏe mãi, đá sỏi gì cũng có lúc đổ mồ hôi. Khi ốm rồi mới hiểu thêm tình vợ, nghĩa phu thê truyền thống của dân mình. Nàng đắp thêm chăn vào những đêm đông, hay quạt cho ta trong chiều hè mất điện. Dịu dàng bón cho ta từng thìa cháo nhỏ, bát cháo hành giải cảm của dân gian. Những viên thuốc đủ màu nhỏ bé xinh xinh, nàng dỗ dành ta gắng mình cố nuốt. Hay có những đêm đông rét buốt, nàng thức cả đêm lo ta từng cái trở mình. ÔI, cảm động biết bao, không nói hết nghĩa tình, ta thấy nàng lại như là chị ta, thậm chí như người mẹ. Chăm chút cho con, dù là Thánh Gióng đã hơn người.
Chuyện chỉ là đời thường thế thôi, nhưng làm người rồi không thể là không nghĩ. Lúc ốm ta mong nàng về như trẻ con mong mẹ. Chờ chiếc bánh đa, hay chờ tiếng nàng cười(?). Mọi khó khăn rồi sẽ lại qua thôi, sẽ đến ngày sức ta khỏe lại.
Thế rồi ta thầm nhủ lòng mãi mãi. Trong cuộc đời này dù chớp giật mưa giông, dù sóng bể mưa nguồn hay nắng gắt, chiều đông. Không bao giờ quên ân nghĩa vợ chồng cùng vợ. Ta sẽ nói điều này với vợ, anh sẽ đem về mùa xuân mãi cho em.
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)